Căng thẳng Mỹ - Israel với Iran có thể làm đảo lộn nguồn cung dầu khí toàn cầu?
27.02.2026
Eo biển Hormuz một lần nữa trở thành tâm điểm căng thẳng gia tăng giữa Iran, Mỹ và Israel, khi thị trường năng lượng phản ứng mạnh trước nguy cơ gián đoạn tại một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới.
Iran đã tạm thời hạn chế một số khu vực của eo biển trong các cuộc diễn tập bắn đạn thật hôm thứ Ba tuần trước, cho biết đây là biện pháp an toàn. Đây là động thái đình chỉ hoạt động hiếm thấy và diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng với Mỹ sau cảnh báo từ Tổng thống Donald Trump rằng có thể tiến hành hành động quân sự liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Tàu chiến lớn nhất thế giới, tàu sân bay USS Gerald R Ford, cũng đã hướng tới Trung Đông như một phần của đợt tăng cường quân sự lớn nhất của Mỹ kể từ cuộc xâm lược Iraq năm 2003.
Eo biển này nối Vịnh Ba Tư với Biển Ả Rập. Nó có hai làn hàng hải, mỗi làn rộng gần 2 dặm và được ngăn cách bởi một vùng đệm, với khoảng 3.000 tàu thuyền đi qua mỗi tháng.
Bridget Payne, người phụ trách dự báo dầu khí tại Oxford Economics ở Anh, cho biết eo biển này vẫn là “một trong những điểm nghẽn năng lượng quan trọng nhất thế giới”.
“Khoảng một phần tư lượng dầu vận chuyển bằng đường biển và một phần năm lượng LNG toàn cầu đi qua đây, chủ yếu từ các nước vùng Vịnh sang châu Á, và hầu hết các nhà cung cấp vùng Vịnh không có tuyến đường biển thay thế cho xuất khẩu”, bà nói với The Independent.
Theo bà Payne, Ả Rập Xê-út và UAE có thể tránh việc vận chuyển dầu qua eo biển bằng cách dùng đường ống, nhưng tổng công suất chuyển hướng chỉ khoảng 3 triệu thùng/ngày, trong khi lượng dầu thường đi qua eo biển lớn gấp 5 lần.
“Rủi ro với LNG còn nghiêm trọng hơn”, bà nói. “Qatar là nước xuất khẩu LNG lớn thứ hai thế giới, và toàn bộ LNG của nước này đều đi qua Hormuz mà không có tuyến thay thế. Bất kỳ sự gián đoạn nào cũng sẽ nhanh chóng siết chặt nguồn cung, cả ở châu Á lẫn trên phạm vi rộng hơn khi các bên mua cạnh tranh nguồn hàng còn lại”, bà bổ sung.
Nguy cơ này đã khiến một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc, kêu gọi hạ nhiệt căng thẳng.
“Vịnh Ba Tư và các vùng biển lân cận là tuyến đường quan trọng cho thương mại hàng hóa và năng lượng quốc tế”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Guo Jiakun cho biết. “Duy trì an toàn và ổn định khu vực này phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế”, ông nói tiếp.
Ông nói thêm Bắc Kinh “sẵn sàng tăng cường trao đổi với Iran và các bên liên quan khác để tiếp tục đóng vai trò xây dựng trong việc giảm leo thang”.
Trong khi đó, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cảnh báo việc đóng eo biển sẽ là “một sai lầm nghiêm trọng nữa” của Iran. “Nếu họ làm vậy thì đó là tự sát về kinh tế và chúng tôi có các lựa chọn để xử lý”, ông nói. “Đó sẽ là sự leo thang lớn và sẽ dẫn tới phản ứng”, ông lưu ý.
Ngoại trưởng Vương quốc Anh David Lammy cũng cho rằng phong tỏa eo biển là sai lầm, trong khi lãnh đạo chính sách đối ngoại Liên minh châu Âu Kaja Kallas mô tả điều đó là “cực kỳ nguy hiểm và không tốt cho bất kỳ ai”.
Bà Payne nhận định giai đoạn căng thẳng hiện nay có điểm khác biệt. “Điểm khác lần này là nguy cơ leo thang đi kèm bất ổn trong nước, làm tăng khả năng chính quyền cảm thấy sự tồn tại của mình bị đe dọa”, bà nói.
“Nếu đến mức đó, Iran có thể sẵn sàng lựa chọn những phương án gây tổn hại cho chính mình, bao gồm làm gián đoạn xuất khẩu của chính họ và làm xấu đi quan hệ với các nước láng giềng cũng như đối tác thương mại chủ chốt bằng cách cản trở giao thông qua eo biển”, bà bổ sung.
Tiến sĩ Mudassir Qamar, phó giáo sư tại Đại học Jawaharlal Nehru ở Delhi, cho biết việc Mỹ tăng cường quân sự và các cuộc tập trận của Iran “nhấn mạnh rằng tình hình có thể chuyển biến chết người nếu các cuộc đàm phán đang diễn ra giữa Iran và Mỹ không đạt được thỏa thuận”.
“Mỹ nhiều lần tuyên bố Iran cần chấp nhận một thỏa thuận, dừng làm giàu hạt nhân và chấm dứt theo đuổi vũ khí hạt nhân”, ông Qamar lưu ý. “Điều này đặt Iran vào tình thế cực kỳ khó khăn, với chỉ một con đường để tránh đối đầu quân sự. Thực sự rất nguy hiểm”, ông nói thêm.
Dù các đe dọa đóng cửa Eo biển Hormuz của Iran phần lớn được xem là tín hiệu chiến lược, bà Payne cảnh báo rằng “đó là tín hiệu đáng tin vì Iran không cần phải đóng eo biển mới tạo ra ảnh hưởng”. “Ý đồ tác chiến có khả năng hơn là chứng tỏ họ có thể làm gián đoạn dòng chảy theo nhiều cấp độ, thông qua can thiệp, gây nhiễu, đánh lừa tín hiệu, quấy rối, hoặc các hành động có chọn lọc làm tăng chi phí bảo hiểm và vận tải, qua đó khiến một số tàu thuyền né tránh”, bà giải thích. “Kiểu gián đoạn một phần như vậy có thể nhanh chóng ảnh hưởng tới thị trường mà không gây phản ứng kinh tế và chính trị dữ dội như khi phong tỏa hoàn toàn kéo dài”, bà cho biết.
Theo công ty dữ liệu và phân tích Kpler, động thái như vậy sẽ khiến châu Á chao đảo.
Muyu Xu, nhà phân tích nghiên cứu cao cấp tại Kpler, nói với The Independent rằng dòng dầu thô và condensate qua eo biển hiện vào khoảng 15 triệu thùng/ngày, cùng với khoảng 3,3 triệu thùng sản phẩm tinh chế. “Khoảng 85% khối lượng này hướng tới các thị trường châu Á”, bà Xu cho biết.
Dữ liệu của Kpler cho thấy gần 57% lượng dầu thô nhập khẩu bằng đường biển của Trung Quốc đến từ Trung Đông, của Ấn Độ là 46%, của Nhật Bản là 93%, và của Hàn Quốc là 70%.
Câu chuyện cũng tương tự với LNG, khi khoảng 27% lượng nhập khẩu của châu Á đi qua eo Hormuz.
Các nền kinh tế châu Á phụ thuộc cao vào dầu nhập khẩu và có mức dự trữ hạn chế - như Ấn Độ, Thái Lan - sẽ chịu áp lực nguồn cung ngay lập tức nếu xảy ra gián đoạn dù chỉ hai tuần.
Nhà phân tích nghiên cứu trưởng của Kpler, Ciaran Tyler, nhận định: “Thị trường nên và đang lo ngại về thế đối đầu giữa Iran và Mỹ. Riêng Iran chiếm gần 8% nguồn cung LPG vận chuyển bằng đường biển toàn cầu. Hơn nữa, 27% dòng LPG toàn cầu đi qua eo biển Hormuz. Vì vậy, bất kỳ việc đóng cửa kéo dài nào hoặc việc chủ tàu từ chối đưa tàu vào khu vực sẽ siết chặt đáng kể nguồn cung LPG tại châu Á”.
Các nước xuất khẩu vùng Vịnh như Iraq, Kuwait và Qatar về cơ cấu vẫn phụ thuộc vào eo biển, trong khi Ả Rập Xê-út và UAE có thể chuyển hướng một phần xuất khẩu qua đường ống.
Theo Kpler, có thể chuyển hướng 7 triệu thùng/ngày qua hạ tầng thay thế hiện có, giả định vận hành tối đa và không phát sinh tắc nghẽn thứ cấp, khiến khoảng 8 triệu thùng/ngày bị mắc kẹt nếu xảy ra phong tỏa hoàn toàn.
Điều đó có nghĩa là dù dầu thô có thể được chuyển hướng qua các đường ống tránh eo biển và một phần nhỏ qua các cảng khác, khả năng chuyển hướng tổng thể vẫn khá hạn chế so với khối lượng thường đi qua eo biển. “Giá trị dầu thô đi qua eo biển mỗi năm khoảng 375 tỷ USD”, bà Xu nói thêm, dựa trên giá chuẩn dầu Dubai trung bình năm 2025, cho thấy quy mô kinh tế của bất kỳ sự gián đoạn nào.
Bà Payne lưu ý rằng ngay cả gián đoạn nhỏ cũng tạo hiệu ứng rất lớn. “Ngay cả gián đoạn một phần cũng có thể nhanh chóng siết chặt nguồn cung giao ngay và đẩy giá tăng do chi phí vận tải, bảo hiểm cao hơn và chậm trễ”, bà nói. “Điều này đặc biệt quan trọng về mặt chiến lược đối với khí đốt: Gián đoạn sẽ trực tiếp đe dọa xuất khẩu LNG của Qatar. Qatar là nhà cung cấp LNG cốt lõi cho châu Á, nên bất kỳ sự ngắt quãng nào cũng sẽ nhanh chóng siết nguồn cung, trước tiên ở châu Á rồi lan rộng hơn khi toàn cầu cạnh tranh các lô hàng”, bà nói thêm.
Dù luật hàng hải quốc tế bảo vệ quyền quá cảnh qua các tuyến đường chiến lược, mọi hành động cản trở có chủ đích đều có nguy cơ bị coi là hành vi xung đột. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chiến lược nhiều khả năng của Tehran vẫn là phát tín hiệu có kiểm soát thay vì phong tỏa hoàn toàn. “Iran có năng lực quân sự để làm gián đoạn, thậm chí đóng eo biển Hormuz, và có thể dùng điều này như một động tác quân sự để gây sức ép lên Mỹ nếu xung đột nổ ra”, ông Qamar nói. “Tuy nhiên, Iran khó có khả năng dùng việc đóng eo biển như bước đi đầu tiên nhằm tránh xung đột”, ông bổ sung.





